Hà Nội, Ngày 19/03/2019

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở Việt Nam

Ngày đăng: 08/03/2019   03:42
Mặc định Cỡ chữ
Xác định đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định thành công của quá trình đổi mới giáo dục, vì vậy, ngành Giáo dục luôn coi việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Bài viết khái quát về thực trạng cũng như những giải pháp của ngành Giáo dục nhằm phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. 
Ảnh minh họa: internet

1. Thực trạng đội ngũ giáo viên hiện nay

Tính đến tháng 8/2018, toàn quốc có 1.161.143 giáo viên mầm non, phổ thông (công lập 1.089.837, ngoài công lập 71.306). Về cơ bản, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học đã đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo, trong đó: mầm non là 96,6%, tiểu học là 99,7%, trung học cơ sở là 99,0%, trung học phổ thông là 99,6%, đại học là 82,7%(1); đây là tiền đề để Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nâng chuẩn trình độ đào tạo cho giáo viên trong Luật Giáo dục (sửa đổi). Hầu hết cán bộ quản lý, giáo viên có lòng yêu nghề, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có ý chí vươn lên, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Năng lực sư phạm của phần lớn nhà giáo được nâng lên, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đã tham mưu tích cực và hiệu quả cho cấp ủyđảng và chính quyền các cấp trong việc xây dựng các chính sách cán bộ, giáo viên, học sinh phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của bộ, ngành, địa phương. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã tăng mạnh về số lượng, chất lượng và ngày càng đồng bộ về cơ cấu trong 5 năm qua, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục của đất nước. 

Sự bất hợp lý trong cơ cấu đội ngũ nhà giáo theo cấp, bậc học, theo chuyên môn, ngành nghề và vùng miền ở những năm đầu thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 đã dần được khắc phục. 

Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp được các địa phương quan tâm triển khai thông qua các hình thức khác nhau. Nhiều sở giáo dục và đào tạo đã tích cực chủ động phối hợp tốt với các cơ sở đào tạo giáo viên trong công tác xây dựng kế hoạch và bồi dưỡng đội ngũ; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở nước ngoài tiếp tục được quan tâm đầu tư thông qua các đề án đào tạo bằng ngân sách nhà nước, học bổng Hiệp định và các chương trình học bổng khác, trong đó, hầu hết số tiến sĩ này là giảng viên các trường đại học, cao đẳng, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo giai đoạn 2018- 2030; Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành văn bản quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên và chuẩn hiệu trưởng theo định hướng cập nhật, đáp ứng yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới; xây dựng khung năng lực giáo viên phổ thông các môn học đặc thù; xây dựng chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm;xây dựng tiêu chuẩn và quy trình lựa chọn giảng viên sư phạm chủ chốt, giáo viên và cán bộ quản lý trường phổ thông cốt cán; xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý với trường sư phạm và trường phổ thông trong bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học; rà soát, sửa đổi, bổ sung chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông theo chuẩn.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã rà soát mạng lưới, quy mô và phương thức đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên; triển khai Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông; khảo sát nhu cầu sử dụng giáo viên của các địa phương. Các trường sư phạm đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và xây dựng mới 50 chương trình đào tạo. Các trường/khoa sư phạm là đơn vị chủ đạo trong công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho các ngành nghề khác. 

2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

2.1. Tập trung quy hoạch lại mạng lưới các cơ sở đào tạo sư phạm

Hiện nay, cả nước có 133 cơ sở đào tạo giáo viên, bao gồm 14 trường sư phạm, 58 trường đa ngành có đào tạo sư phạm, 02 khoa sư phạm thuộc đại học vùng, 02 phân hiệu của Đại học Đà Nẵng và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 33 trường cao đẳng sư phạm và 24 trường cao đẳng có ngành đào tạo giáo viên. Riêng 14 trường đại học sư phạm (trong đó có 07 trường sư phạm trọng điểm) trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạolà những trường chuyên đào tạo giáo viên các cấp, có lịch sử xây dựng và phát triển lâu đời, đội ngũ mạnh, cơ sở vật chất bảo đảm phục vụ tốt trong đào tạo giáo viên. Ngoài ra, có 58 trường đại học đa ngành trực thuộc địa phương có đào tạo sư phạm. Đối với bậc cao đẳng và trung cấp, ngoài một số trường sư phạm, hiện nay có khá nhiều trường kinh tế, kỹ thuật cũng tham gia đào tạo sư phạm(2).

Việc đào tạo sư phạmtrong những năm qua chưađáp ứng nhu cầu xã hội, không sát với thực tế do việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh chủ yếu dựa trên năng lực của cơ sở đào tạo, chưa gắn với nhu cầu đào tạo giáo viên theo từng cấp học, môn học, vùng miền, địa phương dẫn đến cung vượt cầu; chưa có quy hoạch tổng thể về nhu cầu đào tạo và phát triển nhân lực sư phạm theo từng giai đoạn; các trường chưa quan tâm đến các điều kiện đảm bảo chất lượng; công tác kiểm định còn hạn chế, số lượng trường có đào tạo sư phạm được kiểm định còn ít.
Để nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo sư phạm trong thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống kèm theo một mạng lưới tiêu chuẩn trường sư phạm hiện đại, năng động, tự chủ; sử dụng các tiêu chuẩn này để kiểm định, phân tầng, xếp hạng các trường sư phạm và sắp xếp lại mạng lưới các trường sư phạm. Hệ thống các trường sư phạm sẽ được hỗ trợ hình thành các dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu cung ứng nguồn nhân lực của ngành sư phạm. Đồng thời, đẩy mạnh công tác kiểm định chất lượng đối với các trường sư phạm. Công bố công khai kết quả đánh giá, kiểm tra điều kiện đảm bảo chất lượng cùng với những thông tin liên quan đến quá trình đào tạo để người học và xã hội giám sát. Thực hiện ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào đối với ngành đào tạo giáo viên cũng được quy định đối với cả hai phương thức xét tuyển theo kết quả học tập lớp 12 hoặc theo kết quả thi trung học phổ thông quốc gia (từ năm tuyển sinh 2018).

Tập trung triển khai Dự án “Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông” với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới với mục tiêu chung là phát triển các trường sư phạm được lựa chọn và cơ quan quản lý giáo dục để tăng cường chất lượng của giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông, thông qua phát triển nghề nghiệp theo nhu cầu thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Dự án sẽ tập trung vào giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến đào tạo sư phạm gồm: hỗ trợ nâng cao năng lực và phát huy vai trò của các trường sư phạm nòng cốt trong đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dụcphổ thông; hỗ trợ tăng cường năng lực quản lý, hoạch định chính sách của cơ quan quản lý giáo dục các cấp; hỗ trợ các trường sư phạm trong hoạt động hỗ trợ phát triển chuyên môn của giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dụcphổ thông. Bên cạnh đó, các  cơ sở đào tạo giáo viên phải thường xuyên cập nhật đổi mới chương trình đào tạo để đáp ứng chuẩn đầu ra giáo viên các cấp phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới; thực hiện nghiêm túc việc bồi dưỡng và đào tạo lại giáo viên hàng năm theo kế hoạch, đảm bảo giáo viên được cập nhật các kiến thức sư phạm tiên tiến trên thế giới.  

2.2. Nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống thang bảng lương riêng cho đội ngũ giáo viên

Hiện nay,đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công lập được hưởng các chế độ, chính sách theo các quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Ngoài lương được hưởng theo quy định trên, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn được hưởng thêm 2 loại phụ cấp, đó là: phụ cấp ưu đãi (với các mức từ 25% đến 70%); phụ cấp thâm niên (được tính gia tăng theo thời gian công tác). Theo khảo sát, đánh giá gần đây cho thấy, phụ cấp ưu đãi bình quân toàn ngành khoảng 36%, phụ cấp thâm niên toàn ngành khoảng 18%. Như vậy, thu nhập bình quân tăng thêm giáo viên toàn ngành khoảng 54% (cao hơn đối với những công chức hành chính chỉ có phụ cấp công vụ 25%, nhưng mức lương và phụ cấp này đang thấp hơn mức lương và phụ cấp của một số ngành nghề khác(3).

Tại các tỉnh miền núi, giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục ở các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú được hưởng phụ cấp trách nhiệm bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung. Giáo viên dạy lớp ghép ở tiểu học được hưởng phụ cấp dạy lớp ghép từ 50% - 75%. Giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung. Ngoài ra, tùy theo điều kiện cụ thể, một số địa phương cũng có chính sách riêng đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Trong những năm gần đây, Chính phủ đã quan tâm nâng mức thu nhập cho giáo viên như: phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thâm niên nghề, mở rộng tiêu chuẩn, tiêu chí nâng lương trước thời hạn cho giáo viên, nhân viên,... điều đó đã góp phần nâng cao đời sống của giáo viên nhưng thực tế lương của giáo viên chưa theo kịp với chủ trương của Đảng nêu tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa VIII và Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương lần thứ  8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và chưa thực sự đảm bảo được đời sống so với biến động về giá hàng hóa và tình hình kinh tế - xã hội hiện nay.

Với chính sách tiền lương như hiện nay khó thu hút được người tài vào làm việc trong các cơ sở giáo dục, phòng giáo dục và đào tạo, sở giáo dục và đào tạo hoặc có người tài nhưng họ chưa toàn tâm, toàn ý tập trung vào thực thi nhiệm vụ công vụ, dẫn đến tình trạng chất lượng công việc có phần bị hạn chế, chưa góp phần thu hút, giữ chân người tài vào ngành sư phạm. Thực tế có rất nhiều người tâm huyết với nghề dạy học, thậm chí mong muốn đóng góp công việc chung của đất nước, tuy nhiên, với mức lương như hiện nay khiến họ chưa yên tâm công hiến cho ngành. Bên cạnh đó, chính sách tiền lương còn nhiều bất cập dẫn đến khó duy trì nghiêm được tính kỷ luật, thứ bậc và không tạo được tính cạnh tranh trong đội ngũ cán bộ, công chức, nhà giáo. 

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương, trong đó có chính sách ưu đãi phù hợp của Nhà nước về giáo dục và đào tạo. Thực hiện Nghị quyết này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang nghiên cứu đề xuất hệ thống thang bảng lương riêng được xác định theo các vị trí việc làm, trả lương trên cơ sở mức độ phức tạp và chất lượng, hiệu quả của công việc. Trong đó, lương nhà giáo được thực hiện đúng chủ trương của Đảng được nêu tại Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013.Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đang nghiên cứu, phối hợp với các bộ, ngành liên quan đề xuất với Chính phủ thực hiện những giải pháp để nâng cao đời sống đối với đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, qua đó thu hút nhân tài và khuyến khích các em học sinh giỏi thi vào các trường sư phạm.

2.3. Phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 

Triển khai nhiệm vụ và giải pháp về phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo được đặt ra trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trước mắt và lâu dài, Bộ Giáo dục và Đào tạosẽ tập trung vào một số nhiệm vụ cụ thể như sau:

Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện chính sách, chế độ đối với đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Xây dựng, ban hành chuẩn nghề nghiệp theo tinh thần tiếp cận năng lực; phê duyệt Đề án nâng cao năng lực giảng viên. Đồng thời, xây dựng quy hoạch tổng thể và tiêu chuẩn trường sư phạm hiện đại, năng động, tự chủ; kiểm định, xếp hạng và sắp xếp lại mạng lưới các trường sư phạm. Đổi mới hoạt động đào tạo giáo viên dựa theo chuẩn đầu ra cho sinh viên sư phạm gắn với chuẩn nghề nghiệp.

Thứ hai, triển khai Dự án “Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông” đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Ban hành các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý trường phổ thông thống nhất trong cả nước. Xây dựng hệ thống tập huấn, bồi dưỡng giáo viên qua mạng; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng giáo viên kết hợp hai hình thức trực tiếp và qua mạng.

Thứ ba, Bộ Giáo dục và Đào tạochỉ đạo địa phương quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khoá XII trong việc tuyển dụng, sử dụng giáo viên; xác định số giáo viên thừa, thiếu từng cấp học, môn học; thực hiện tốt việc đánh giá, xếp loại giáo viên và thực hiện tinh giản biên chế đối với giáo viên, cán bộ quản lý theo quy định của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức. 

Thứ tư, xây dựng và thực hiện các chính sách tạo động lực cho giáo viên và giáo sinh: xây dựng các quy định gắn kết hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên sư phạm; điều chỉnh, bổ sung các quy chế thực hành nghiệp vụ sư phạm, quy chế thực tập sư phạm của sinh viên sư phạm; nghiên cứu chính sách hỗ trợ sinh viên sư phạm trong thời gian học và sau khi ra trường; nghiên cứu, rà soát và đề xuất chế độ, chính sách tuyển dụng, sử dụng, lương, phụ cấp và thu nhập của giáo viên,...

Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ xuyên suốt của ngành Giáo dục. Bởi giáo viên là nhân tố quyết định thành công của quá trình đổi mới giáo dục, của sự nghiệp giáo dục. Thực tiễn cho thấy, nếu được quan tâm đào tạo, được tạo điều kiện tốt về thu nhập, đời sống, được trân trọng những cống hiến nghề nghiệp, chất lượng giáo viên, hiệu quả giáo dục sẽ được tăng lên. Trách nhiệm của ngành Giáo dục là cùng toàn xã hội tạo ra điều kiện, môi trường tốt nhất cho giáo viên được phát triển và cống hiến./.

TS. Nguyễn Hữu Độ - Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

-----------------------------------------
Ghi chú:
(1),(2),(3) Báo cáo Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

tcnn.vn

Tin tức cùng chuyên mục

Vận dụng phép biện chứng duy vật trong quá trình xây dựng và thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngày đăng 18/03/2019
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã trải qua hơn ba mươi năm, đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, đã, đang và sẽ đem lại những thay đổi lớn lao cho đất nước và dân tộc. Kết quả quan trọng đó có phần quan trọng là Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của triết học mác xít, trong đó có phép biện chứng duy vật vào xây dựng và thực hiện đường lối đổi mới.

Quan điểm của một số tác giả thuyết phân quyền về vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước - giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Ngày đăng 15/03/2019
Hiện nay ở hầu hết các quốc gia, làm thế nào để kiểm soát được quyền lực của nhà nước, tránh tình trạng lộng quyền và tha hóa quyền lực vẫn là vấn đề có tính thời sự. Qua nghiên cứu lý thuyết về kiểm soát quyền lực nhà nước của một số học giả phương Tây, bài viết tiếp cận vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước trên nhiều góc độ như luật pháp, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của nhân dân nhằm ngăn chặn, kiểm soát sự lộng quyền, tha hóa quyền lực của bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay.

Thực trạng và giải pháp thực hiện bình đẳng giới đối với công chức, viên chức nữ

Ngày đăng 06/03/2019
Ngày 31/3/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 515/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2020. Bài viết khái quát thực trạng, đánh giá kết quả thực hiện bình đẳng giới đối với công chức, viên chức nữ, từ đó đề xuất một số giải pháp thực hiện bình đẳng giới, góp phần xây dựng và phát triển vững chắc đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Kết quả và kinh nghiệm bước đầu về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế theo Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII)

Ngày đăng 04/03/2019
Tại Hội nghị lần thứ sáu, khóa XII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Qua hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết đã đạt kết quả khá rõ ràng và đáng trân trọng.

Nhận diện và hoàn chỉnh cơ chế kiểm soát việc trao, thực thi quyền lực ở nước ta hiện nay

Ngày đăng 20/02/2019
Quyền lực là mối quan hệ giữa các thực thể hành động của đời sống xã hội, trong đó thực thể này có thể chi phối hoặc buộc thực thể khác phải phục tùng ý chí của mình nhờ sức mạnh, vị thế nào đó trong quan hệ xã hội. Vấn đề đặt ra là việc kiểm soát quyền lực thế nào để người ta không thể tham nhũng, không dám tham nhũng, không muốn tham nhũng và không cần tham nhũng; để chống lại nguy cơ tha hóa quyền lực trong điều kiện hiện nay vì các nguy cơ tha hóa, như lạm quyền, lộng quyền...

Tiêu điểm

Hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu chiến lược cán bộ của Đảng

Tiếp tục quán triệt, hoàn thiện Chiến lược cán bộ và nhiệm vụ đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và thực hiện thành công Chiến lược cán bộ của Đảng, nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đặt ra đối với Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ trong thời gian tới là cần phải thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW thành các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (CBCC).